GIỚI THIỆU CHUNG

TÂN CƯƠNG -  Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và quá trình hình thành làng xã

Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

 Tân Cương là vùng đất cổ, thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 12km về phía Tây, có tọa độ 21o29,00,, - 21o31,00,, vĩ độ bắc; 105o44,00,, - 105o46,00,, kinh độ đông; phía bắc giáp Phúc Trìu, đông giáp Thịnh Đức, nam giáp Bình Sơn, tây giáp Phúc Trìu và Phúc Tân (Phổ Yên). Diện tích tự nhiên của xã 15km2, diện tích trồng lúa 200ha, diện tích chè 450ha. Xã có 16 xóm, 1.398 hộ, với 5.893 nhân khẩu (số liệu năm 2013).

Địa hình Tân Cương chủ yếu là dạng gò đồi và bát úp, độ cao trung bình từ 30m-100m so với mực nước biển, rải rác có một số đồi cao khoảng 150m. Địa hình tiêu biểu là Núi Guộc và Sông Công.

Loại đất chủ yếu ở Tân Cương là Feralit vàng đỏ. Đất phù sa được bồi hàng năm, trung tính, ít chua, thích hợp với trồng màu, cây công nghiệp, đặc biệt là cây chè. Tuy nhiên về mùa khô, đất Tân Cương không có mạch nước ngầm, do đó bị khô hạn, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. 

Tân Cương mang đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm, gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt. Mưa mưa bão tập trung vào tháng 7 và tháng 8 hàng năm.  Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,2oC, tháng lạnh nhất là tháng 1; nhiệt độ cao nhất là 37oC, nhiệt độ thấp nhất 7oC. Tần suất sương muối thường xảy ra vào cuối tháng 12 và tháng 1 hàng năm.

Giao thông Tân Cương có tỉnh lộ 263 chạy qua, mặt đường trải nhựa rộng khoảng 12m, chạy từ Thịnh Đán qua xã Thịnh Đức và Phúc Trìu, chạy dọc giữa xã lên đập Hồ Núi Cốc.

Cở sở hạ tầng Tân Cương khá phát triển. Ngày càng có nhiều công trình được xây dựng tại Tân Cương như: Đường Tân Cương, không gian văn hóa trà, chợ chè Tân Cương,v.v…

Về sông suối. Tân Cương có Sông Công chảy qua địa bàn xã theo hướng tây bắc - đông nam. Sông Công là nhánh chính của sông Cầu, dài 96km, bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá (Định Hóa) chảy qua Đại Từ vào Tân Cương, chia địa bàn Tân Cương thành hai vùng. Vùng phía tây Sông Công là khu rừng nguyên sinh, diện tích khoảng 630ha; phía đông Sông Công là những đồi, gò thấp, xen kẽ là những dải đất bằng phẳng.

 Trên địa bàn Tân Cương có hai con suối lớn. Suối thứ nhất bắt nguồn từ giữa xã Phúc Trìu, dòng chảy tạo thành ranh giới tự nhiên giữa xã Tân Cương với xã Phúc Trìu và xã Thịnh Đức (gọi là suối Cầu Tây). Suối thứ hai cũng bắt nguồn từ xã Phúc Trìu, chảy qua xóm Gò Pháo, Đội Cấn, Soi Vàng đổ vào Sông Công. Dòng suối này cùng với Sông Công tạo ra một dải đất phù sa bằng phẳng, ngày nay là xóm Soi Vàng. 

Có thể nói, hệ thống sông, suối, đặc biệt là Sông Công có đủ điều kiện ổn định để tưới tiêu phát triển nông nghiệp cho Tân Cương.

Tân Cương có diện tích rừng khá lớn. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, rừng Tân Cương không chỉ có giá trị về kinh tế, mà còn là nơi các chiến sĩ cộng sản hoạt động. Rừng Tân Cương cũng là nơi đặt trạm giao liên của Trung ương, trên tuyến liên lạc bí mật từ An toàn khu 2 (ATK2) lên căn cứ địa Việt Bắc (1942-1945); đồng thời, đây cũng là nơi các doanh trại, thao trường tập luyện của Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, xưởng quân giới...

 Quá trình hình thành làng xã

Xưa kia, vùng đất Tân Cương ngày nay chưa được đặt tên về mặt hành chính. Từ làng Bình Định đến giáp đất Soi Mít (thuộc xã Phúc Trìu) là dải đất hoang vu, rừng núi rậm rạp- nơi có nhiều động vật hoang dã và thú dữ sinh sống.

Tân Cương xưa kia bao gồm làng Y Na[1], Thịnh Đức và Bình Sơn, nằm ở phía tây nam trấn Thái Nguyên. Dưới triều Lê (1469), Y Na thuộc tổng Thịnh Đán. Khi nhà Nguyễn lập tỉnh Thái Nguyên vào năm 1831, nơi đây vẫn là một vùng rừng núi hoang vu thuộc địa phận tổng Thịnh Đán.

Năm 1836, Y Na là một tổng, gồm 5 xã là Y Na, Phúc Xuân, Bá Vân, Phi Đơn và Cải Đan, thuộc huyện Phú Lương, phủ Tòng Hóa, trấn Thái Nguyên[2]. Năm 1900, thực dân Pháp tách phủ Tòng Hóa khỏi Thái Nguyên thành lập tỉnh Bắc Kạn. Phú Lương tách khỏi Tòng Hóa thuộc tỉnh Thái Nguyên. Lúc này, tổng Y Na không còn trong huyện Phú Lương mà về Đồng Hỷ thuộc tổng Túc Duyên.

Năm 1919, thực dân Pháp đưa một số người ở các vùng quê khác nhau như Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên đi lính cho Pháp, vào vùng Tân Cương khai khẩn đất đai kiếm kế sinh nhai. Thực dân Pháp cấp cho ba làng Tân Cương, Phúc Trìu và Thịnh Đức số đất canh tác 554,3703ha làm “tiểu đồn điền”, hay còn gọi là “ấp di thực”. Theo thời gian, số người từ Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên đến lập nghiệp ở Tân Cương ngày càng nhiều, trong số đó có ông Đội Năm, vốn là sĩ quan quân đội Pháp, tên thật là Vũ Văn Hiệt, đã về mở đồn điền ở vùng Tân Cương nhằm quy tụ và tạo nơi ăn chốn ở, giúp đỡ cho những người lính cùng cảnh ngộ.

Cũng thuở khai đất lập làng ấy, quan Án sát tỉnh Thái Nguyên lúc đó là Nguyễn Đình Tuân, tự là Hữu Mai, sinh ngày 12 tháng Giêng, năm Đinh Mão (1867) tại làng Trâu Lỗ, tổng Mai Đình, nay là thôn Trâu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Làng Trâu Lỗ có tên “nôm” là làng Sổ, vì vậy ông Nguyễn Đình Tuân vẫn đ­ược gọi là ông Nghè Sổ.

Nguyễn Đình Tuân làm quan nhưng con đường quan lại gặp nhiều trắc trở. Trong những năm làm quan Án sát tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Đình Tuân luôn thể hiện khí phách của một người trí sĩ, thương dân, kể cả những người lính đang sinh sống và lập nghiệp cùng với Đội Năm ở miền sơn cưới Tân Cương. Do đó, Nguyễn Đình Tuân đã tìm mọi cách giúp đỡ họ hoàn thiện thủ tục pháp lý, đệ trình lên Chính phủ bảo hộ và vua Bảo Đại để thành lập một đơn vị hành chính cấp xã mới, lấy tên là xã Tân Cương, thuộc tổng Thịnh Đán, huyện Đồng Hỷ. 

 Sau khi xã Tân Cương được thành lập, nhân dân Tân Cương mời Nguyễn Đình Tuân về cắm hướng đình. Ngày 10-2 năm Nhâm Tuất (1922), Nguyễn Đình Tuân về cắm hướng đình, đình Tân Cương được chính thức khởi công xây dựng. Hơn một năm sau, đình Tân Cương hoàn thành. Trong lễ khánh thành đình, Nguyễn Đình Tuân không về được, ông đã cho lính khiêng bức hoành phi câu đối về tặng đình và nhân dân Tân Cương. Bức hoành phi mang ba chữ “Đại Thắng Lợi” và hai câu đối:

Thái Nguyên giàu đẹp muôn muôn thủa

 Tân Cương cường thịnh vạn vạn niên[3].

Với công lao to lớn đối với đất và ngưới Tân Cương, nhân dân trong xã đã tôn Nguyễn Đình Tuân là “Thành hoàng làng” và thờ sống ông ngay khi ông còn sống.

Theo dòng chảy của thời gian, đất Tân Cương ngày càng phát triển. Đến năm 1940, dân số Tân Cương có khoảng 80 hộ với 500 nhân khẩu. Đến trước năm 1945, dân số tăng lên khoảng 200 hộ, với 1.800 nhân khẩu. Những người mới có mặt ở Tân Cương là từ các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, di dân tới. Hầu hết trong số họ là những người nghèo, phải bỏ quê hương làng xóm đến Tân Cương lập thân, lập nghiệp, tìm cách định cư sinh sống.

  Năm 1941, Thống sứ  Bắc kỳ ký Nghị định Số 5549, sáp nhập thêm Bình Định vào Tân Cương. Thời kỳ này, Tân Cương có 5 xóm: Gò Pháo, Nam Đồng, Guộc, Nhà Thờ và Nhân Hòa. Tháng 5 năm 1946, thực hiện chủ trương thành lập đại xã chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xã Đức Tân được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai xã Tân Cương và Thịnh Đức. Đầu năm 1948, xã Bá Sơn sáp nhập vào xã Đức Tân. Ngày 21 tháng 9 năm 1953, xã Đức Tân được tách ra làm ba xã: Tân Cương, Thịnh Đức và Bình Sơn[4]. Xã Tân Cương gồm xóm Hồng Thái, Đội Cấn, Y Na, Nam Hưng, Nam Thái, Soi Vàng, Guộc và Nhà Thờ. Lúc này, xóm Bình Định cắt về xã Bình Sơn. Năm 1973, do yêu cầu của sản xuất, Nhà nước triển khai xây dựng hệ thống thủy lợi Hồ Núi Cốc, theo đó một bộ phận dân cư, khoảng 40 hộ từ vùng lòng Hồ Núi Cốc đã về tái định cư ở khu vực “ba vũng”, hình thành xóm Tân Thái. Tân Cương tiếp tục được mở rộng về quy mô dân số.

Ngày 2 tháng 4 năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định Số 102-HĐBT, tách 7 xã Phúc Hà, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương Thịnh Đán, Thịnh Đức và Tích Lương thuộc huyện Đồng Hỷ sáp nhập vào thành phố Thái Nguyên. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố Thái Nguyên có 13 xã là Đồng Quang, Cam Giá, Gia Sàng, Quang Vinh, Lương Sơn, Phúc Xuân, Thịnh Đức, Tích Lương, Tức Duyên, Phúc Hà, Phúc Trìu, Thịnh Đán, Tân Cương và 9 phường Tân Long, Hoàng Văn Thụ, Phan Đình Phùng, Phú Xá, Tân Thành, Trung Thành, Quán Triều, Trung Vương và Hương Sơn. Từ 1985 đến nay, Tân Cương nằm trong địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên.

Đến năm 2013, dân số Tân Cương có 1.170 hộ với gần 6.000 nhân khẩu.



Tác giả: thuy linh